 Lối vào ngôi nhà Phật pháp thâm diệu của đức Như Lai bao gồm tám vạn bốn ngàn cửa pháp nhưng không ngoài nền tảng ba món vô lậu (Giới - Định - Tuệ) làm căn bản tiến tu và đạt thành Thánh Quả. Điều trọng yếu của hành giả tu tập Phật pháp là tự mình và người đồng liễu thoát sanh tử. Chính vì thế bổn phận người xuất gia ngoài việc tự độ còn phải độ tha, muốn làm tròn bổn phận hoằng pháp lợi sanh ấy, chúng ta cần phải có đầy đủ “thân giáo - khẩu giáo và ý giáo”. Trong ba điều này, tại sao thân giáo được đặt trước khẩu giáo và ý giáo? Như chúng ta biết đức Như Lai không phó chúc Tăng đoàn cho bất kì vị thánh giả nào nhưng tại pháp hội Linh Sơn đức Như Lai chia nửa tòa ngồi cho ngài Ca Diếp. Một đời vị Thánh giả này không thuyết pháp, mà lại chuyên tu đệ nhất đầu đà. Có phải chăng đức Như Lai muốn nhắc nhở chúng ta rằng, cần phải có sự phạm hạnh để mô phạm cho mọi người không? Cái phạm hạnh đó chính là đức hạnh của một tu sĩ Phật giáo như chúng ta. Đức hạnh, được thể hiện bằng việc nỗ lực trau dồi ba món vô lậu, mà cụ thể của đức Hạnh là Giới. Vậy chúng ta phải tu tập trau dồi đức hạnh (giới đức) như thế nào? Và làm sao có thể tạo cho mình một đời sống đầy đủ đức hạnh (giới đức)?
Chính vì thế, bổn phận chúng ta là tu sĩ phải cố gắng tu tập cho được cuộc sống an lạc giải thoát, đức hạnh viên dung, xứng đáng là bậc “Chúng Trung Tôn”. Muốn trau dồi Giới Đức ta cần phải hiểu rõ về nó, như vậy sự hành trì mới có lợi ích được.
Tam vô lậu học là gì ? Trong kinh Lăng Nghiêm quyển sáu, có nói rằng : “Nhiếp tâm là Giới, nhân giới sanh Định, nhân Định phát Huệ; thế thì gọi là Tam vô lậu học”. Vậy cho nên ba môn học này không đơn thuần như nhiều người đã từng nghĩ về nó. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu riêng về Giới mà thôi, để thấy rõ tầm quan trọng của giới cũng như sự biểu hiện đức hạnh đặc trưng của Giới.
Giới là nhiếp tâm. Vậy, nhiếp tâm là thế nào? Nghĩa là niệm niệm tương tục chuyên nhất không tạp niệm, không vọng tưởng phan duyên. Luôn quán chiếu về nội tại bên trong, giữ nơi tự tánh của bản tâm chẳng rời một niệm. Chắc hẳn hàng phàm phu như chúng ta không thể nào thực hành như thế được, vì đó là dành cho hàng đại căn lợi trí tu thẳng nơi tâm bất cần tiệm pháp. Nhìn thẳng vào tánh, chẳng vướng nơi tướng của các duyên, chẳng cần trì giới mà mọi cử chỉ đều thuận nơi giới. Bạn làm được những điều đó không? Cho nên chúng ta không thể bỏ qua việc nghiêm trì giới luật. Bởi Giới luật là hàng rào, là bảo vật hộ thân tăng trưởng phúc lành. Giới, tiếng Phạn là Sila, có thể hiểu rằng là giới hạnh bao gồm những giá trị luật lệ khuông mẫu cho đức hạnh tốt đẹp. Lại, nghĩa gốc của chữ Sila là sự tự nhiên là thói quen. Qua đó ta thấy, giới chính là những phương tiện để giúp cho chúng ta trở về với chính những thói quen đức hạnh sẵn có nơi mình, chớ nào phải là những qui định giáo điều như nhiều người đã từng nghĩ nhầm.
Giới cũng có nghĩa là “phòng phi chỉ ác”, tức là phòng hộ các điều tội lỗi, đình chỉ tất cả các điều quấy ác. Cũng đồng nghĩa dứt trừ các nhân sanh tử luân hồi nơi chính mình, răn giữ phòng hộ chính mình. Như HT.Quảng Khâm trong Cẩm Nan Tu Đạo có nói : Giới là giới nội chớ không phải giới ngoại. Nghĩa là tự răn chính mình chớ không phải dùng để răn người. Điều này cần phải thận trọng và hiểu cho thấu đáo. Giới có công năng ngăn chặn điều ác và khai mở điều thiện nên cũng có khi gọi là “chỉ ác tác thiện”, khi nương vào giới luật mà hành trì thì pháp lành nào mà chẳng sanh, công đức nào mà chẳng tăng trưởng? Khi pháp lành đã sanh, thì ắc hẳn ác pháp sẽ bị tiêu diệt đường đến thánh quả e ngại chi mà chẳng thành tựu hay sao? Ngoài ra, Giới còn hàm chứa các nghĩa như: tịnh trúnghĩa là nơi cư trú an tịnh cho hành giả, cũng là trưởng dưỡng tức nuôi lớn và tăng trưởng thêm các pháp lành, cũng gọi là trưởng tịnh tức trưởng dưỡng căn lành tịnh trừ nghiệp chướng, cũng gọi là thiện túc tức từ nơi giữ gìn giới luật đây mà đầy đủ tất cả các pháp lành.
Theo Giới Bổn (Patimokkha) thì Giới còn có nghĩa là “biệt giải thoát”, “xứ xứ giải thoát”,“tùy thuận giải thoát”, “biệt giải thoát”, nghĩa là khi hành giả đã thọ trì giới rồi, tùy theo sự giữ gìn trọn vẹn giới nào thì sẽ được giải thoát khỏi ác nghiệp của giới đó. Ví dụ như, khi chúng ta giữ trọn vẹn giới bất đạo (không trộm cắp), thì chắc hẳn sẽ thoát khỏi quả báo ác nghiệp của sự trộm cắp, đồng thời cũng sẽ có được cuộc sống sung túc về vật chất, tài sản không bị người chiếm đoạt v.v… Các giới khác cũng tương tự như vậy cả; thế nên mới gọi là biệt giải thoát. Lại, nội tâm hành giả hưởng được sự an lạc giải thoát nơi chính mình sẽ tỉ lệ thuận với công phu hành trì từng phần giới luật. Khi chúng ta thọ trì một giới nào mà đức Như Lai đã chế định ra, thì công năng của giới ấy sẽ tẩy trừ đi một phần bất thiện trong tâm, và làm dứt đi cái quả báo khổ đau của ác nghiệp ấy. Một hành giả luôn luôn nhứt cử nhứt động thuận theo giới luật chẳng khi trái phạm, thời thời đều nương theo giới mà tu hành, dù bất cứ nơi nào tâm luôn an trụ nơi giới không lúc xa rời, phan duyên dứt bật, giải thoát an lạc hiện bày nơi tâm, đầy đủ nơi tướng, được như vậy gọi là “xứ xứ giải thoát”. Cũng như thế, việc hành trì giới luật mang tín chất hữu vi hay vô vi thì sự giải thoát cũng sẽ tùy thuận tương ưng theo sự hành trì đó của mình, nên gọi là “tùy thuận giải thoát”. Ngoài ra Patimokkha (Giới Bổn) còn có nghĩa là liên kết, đây là phương thức là sợi dây để liên kết hệ thống tổ chức của Tăng đoàn. Tại đây, giới mang tầm quan trọng hơn hết đối với Tăng già, bởi giới là sức mạnh của Tăng đoàn là mạng sống sinh tồn của Phật pháp, cho nên trong Luật Tạng có nói “Tỳ Ni Tạng trụ Phật pháp diệc trụ, Tỳ Ni Tạng diệt Phật pháp diệc diệt”. Nghĩa là Giới Luật còn thì Phật pháp còn, Giới Luật mất thì Phật pháp mất.
Ở đây, chúng ta nên hiểu rằng, Giới Luật là những học giới căn bản quan trọng nhất mà hành giả cần phải tu tập để sớm có thể tiến đến sự giải thoát. Song mà, chúng sanh có nhiều căn cơ nên việc phát tâm lãnh thọ giới pháp cũng tùy thuộc theo đây mà đức Phật đã thiết lập và phân chia giới pháp ra nhiều loại khác nhau, để phù hợp từng đối tượng mà hành trì cho thiết thực. Đối với hàng tại gia thì vâng giữ năm giới, mười giới, Bồ Tát tại gia giới; còn hàng xuất gia thì Sa di giới, Sa di Ni giới, Tỳ kheo giới, Tỳ kheo Ni giới v.v… đó là xét về đối tượng. Còn về mặt biệt và thông (giới riêng và giới chung cho những hành giả Phật giáo), thì giới được chia thành “biệt giới” và “thông giới”. Bởi có những giới pháp mà hàng tại gia và xuất gia đều có thể thọ trì được nên gọi là “thông”, chẳng hạn Bồ Tát giới, đây là những học giới mà cả ba đời chư Phật đều truyền thọ cho nhau, không phải đến khi đức Thích Tôn thành đạo mới có. Còn “biệt giới” thì chỉ dành riêng cho hàng xuất gia (chủ yếu là đối với Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni) lãnh thọ mà thôi, vì lý do đó nên gọi là “biệt”.Nhưng suy cho cùng thì trong “biệt giới” có chứa cả “thông giới” mà trong “thông giới” thì không có bao gồm những học pháp khác của “biệt giới”, (chẳng hạn ngũ giới thì tất cả dù thông hay biệt đều lãnh thọ, nhưng ngoài học giới đó ra thì các học giới của người xuất gia, người tại gia không thể thọ trì được). Điều đáng chú ý hơn, “biệt giới” sẽ mất đi khi hình tướng mất, thông giới thì một khi đã thọ thì vĩnh viễn theo ta từ đời này sang đời khác. Ngài Thiên Thai Trí Giả đại sư có nói : “Giới này (thông giới) khởi thì khởi tánh”. Mà tánh này mỗi chúng sanh đều có, khi hành giả phát Bồ Đề tâm thì sẽ được đắc giới. Nói đến Đại Thừa giới (Bồ Tát giới) tức là nói đến Tam Tụ Tịnh Giới : Nhiếp luật nghi giới, còn gọi là Biệt giải thoát giới, gồm các học giới pháp mà giới tử thọ trì để ngăn chặn các pháp bất thiện tăng trưởng các điều lành. Còn khi làm các việc lành tức là hành trì giới (giữ giới) hành giả chuyên tâm hành trì các điều lành, như vậy gọi là Nhiếp thiện pháp giới. Bước thêm một bước xa hơn nữa, lấy lợi ích cho chúng sanh làm mục tiêu cho sự nghiêm rì giới pháp một cách tối yếu, khi ấy gọi là Nhiêu ích hữu tình giới, nghĩa là lợi ích cho khắp cả loài hữu tình, hay cụ thể hơn là lợi ích cho tha nhân.
Qua đó chúng ta thấy rằng, Giới là điểm căn bản để trau dồi phẩm hành cho một hành giả tu tập. Dầu rằng tánh giới hay tướng giới (tiểu thừa và đại thừa giới), nhưng tầm quan trọng của giới được thể hiện qua cử chỉ hành động của chúng ta. Hành động cử chỉ này có thể làm mô phạm cho mọi người, gây thiện tín cho hàng cư sĩ tại gia, tránh đi sự cơ hiềm của người thế tục… chính những điều ấy tạo thành đức hạnh cho một tu sĩ Phật giáo. Vì thế, chúng ta phải làm sao nuôi lớn nó trong đời sống tu tập hàng ngày. Được như vậy sẽ đi đến sự tối thắng của Giới, ấy là quả vị giải thoát giác ngộ lợi ích cho mình và cho mọi người. |